Khi bạn nghe thấy vật liệu dệt “bảo vệ” một cái gì đó, chắc chắn bạn nghĩ tới bộ đồng phục của lính chữa cháy, hoặc bộ áo chống đạn của binh lính. Chắc bạn không xem xét cái chăn “tầm thường” của trẻ em, hoặc thậm chí cái áo T-shirt bạn mặc hàng ngày theo cách “bảo vệ”.
Nhưng những sản phẩm dệt may thông dụng ấy bảo vệ cái gì đó hàng ngày – đó chính là danh tiếng của nhãn hàng, chất lượng hàng hóa. Nếu chăn của trẻ em có chứa các hóa chất gây kích thích da của chúng, hoặc cái áo T-shirt ấy được gia công bằng các hóa chất được tin là gây ung thư, thì danh tiếng của nhãn hàng sản phẩm ấy có thể bị tổn thương không sao sửa chữa được.
Trong kỷ nguyên mua hàng toàn cầu, các nhãn hàng làm cách nào bảo vệ danh tiếng quý giá của họ? Cách thức mà nhiều công ty bảo vệ danh tiếng của mình bằng cách quy định rõ danh sách các chất bị hạn chế – và chỉ sử dụng các nhà cung cấp tuân thủ với danh sách ấy mà thôi.
Để bảo vệ người tiêu dùng, các chính phủ trên thế giới đã cấm sự hiện diện của các chất bị nghi ngờ là có hại trong sản phẩm thành phẩm. Nhiều công ty đã đi xa hơn quy định của chính phủ để đảm bảo sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng.
1. Các chất bị cấm
Về mặt nguyên tắc, phải nói rằng tất cả vật liệu dệt, quần áo hoặc vải đều là các sản phẩm an toàn và hầu hết các nhà sản xuất và thương nhân đều cố gắng rất nhiều trong việc thử nghiệm sản phẩm của họ. Và không thể đảm bảo sự an toàn của sản phẩm bằng tất cả các chất tự nhiên. Bởi vì một chất được coi là “tự nhiên”, nhưng không thể đảm bảo nó là an toàn. Một vài thuốc nhuộm tự nhiên hoặc cây cối có thể gây hại. Tự nhiên không có nghĩa là an toàn, và tổng hợp không có nghĩa là không an toàn.
Bất kỳ chất nào cũng có thể gây hại với lượng đủ để gây hại – nước điển hình được xem là có lợi nhưng uống quá nhiều nước làm thận làm việc quá mức. Thậm chí các chất được xem là gây hại khi nồng độ của chúng trên các mức nào đó sẽ là an toàn nếu nồng độ dưới mức các mức đó. Đó chính là các giới hạn ngưỡng hoặc chỉ số rủi ro đơn vị.
Cũng có vấn đề nữa là cảm nhận rủi ro. “Cảm nhận rủi ro” đẩy các yêu cầu về hóa chất bị cấm đi xa hơn rủi ro thực. Nếu một hợp chất hóa học được cho là gây ra 5 ca ung thư trên 1 triệu dân trong khi tỷ lệ điển hình là 1 ca trên 1 triệu dân, truyền thông sẽ nói rằng hợp chất gây ra ung thư “cao hơn 5 lần”. Nhưng sự thực là tỷ lệ thực còn rất nhỏ. Trong trường hợp một số hóa chất thì lợi ích chúng mang lại có thể có giá trị hơn rủi ro nếu như không có chất thay thế phù hợp.
2. Tại sao các chất nào đó bị cấm
Các chất bị hạn chế là các hóa chất và các vật liệu khác bị cấm hoặc bị hạn chế bằng luật hoặc bằng các nhãn hàng trong các quá trình sản xuất nhất định. Các chất bị chính phủ hạn chế là những chất được tin là đưa lại rủi ro cho môi trường, sức khỏe hoặc an toàn. Phơi nhiễm với các chất sẽ mang lại mối nguy hại cho sức khỏe nói chung dưới dạng gây ung thư, độc chất hoặc gây dị ứng. Các chất bị hạn chế được tìm thấy trên vật liệu dệt thường tiếp xúc với da hoặc tiếp xúc với con người và do vậy mang lại rủi ro cao hơn.
Các hóa chất khác nhau có các lượng giới hạn ngưỡng khác nhau. Các mức này được thiết lập dựa trên nghiên cứu về liều được thấy là gây hại cho người. Tất cả các quy định được dẫn dắt bởi các nghiên cứu tình huống hiện có về ảnh hưởng của các chất nào đó lên cơ thể con người.
Phơi nhiễm lặp lại cũng là một vấn đề. Công nhân có thể gặp rủi ro nhiều hơn với phơi nhiễm lặp lại hơn là người tiêu dùng. Một số chất bị hạn chế trong quá trình sản xuất dệt, trong khi các chất khác lại được phép sử dụng trong sản xuất nhưng vết của chúng lại bị hạn chế trong vải thành phẩm. Một số chất bị cấm để bảo vệ công nhân, các chất khác bị cấm để bảo vệ người tiêu dùng hoặc đôi khi để bảo vệ cả hai.
3. Các chất nào bị cấm?
Các thuốc nhuộm azo được sử dụng để nhuộm vải và da. Một số amin được phân tách ra khỏi các chất màu azo là chất gây ung thư tiềm năng. Các thuốc nhuộm azo bị hạn chế ở EU.
Các Alkyphenoletoxylat (APEO) là một nhóm các chất hoạt động bề mặt không ion được sử dụng trong thuộc da và sản xuất tơ tằm. APEO cũng có thể có mặt trong một số thuốc nhuộm và chế phẩm pigment và trong một số vật liệu nhồi và miếng đệm từ xơ polyeste. Sản phẩm thoái biến kỵ khí của chất hoạt động bề mặt là nonylphenol có ảnh hưởng lên hệ hooc môn của người và khả năng sinh sản, cũng như có khả năng gây ung thư và biến đổi di truyền.
Cadmium là kim loại có nhiều trong tự nhiên thường được sử dụng trong các pigment để in vật liệu dệt, đặc biệt là các pigment màu đỏ, màu vàng, màu cam, xanh lá cây; và được sử dụng là tác nhân nhuộm màu cho vật liệu dệt, da và sản phẩm plastic. Người ta nghĩ rằng cadmium gây ung thư và gây vấn đề sinh sản, tổn thương DNA, và làm tổn thương hệ thần kinh trung ương. Kim loại này bị hạn chế ở Hà Lan và bị cấm hoàn toàn ở Thụy Điển.
Crom là kim loại có trong tự nhiên. Crom có ở 3 dạng: Crom (0), Crom (III) và Crom (VI). Trong vật liệu dệt và quần áo, người ta có thể tìm thấy crom trong plastic, da thuộc và các pigment. Các hợp chất có chứa Crom (VI) và Crom (III) gây ăn mòn và được biết là gây ung thư. Sử dụng Crom bị hạn chế trong ngành da ở Đức.
Các thuốc nhuộm phân tán là lớp thuốc nhuộm tan trong nước được sử dụng cho xơ tổng hợp hoặc xơ nhân tạo (polyeste, axetat và nylon). Một số thuốc nhuộm phân tán bị nghi là gây ra các phản ứng dị ứng. Chúng bị hạn chế ở Đức.
Các chất chống cháy (FR) là các hợp chất hóa học được sử dụng để ngăn ngừa hoặc kiểm soát sự cháy của vải. Ta có thể tìm thấy nhiều loại FR khác nhau trong quần áo ngủ của trẻ em, vải bọc đồ gỗ, quần áo bảo hộ và vải làm lều (dưới dạng lớp tráng). Một số chất chống cháy như là Tris (hydroxymetyl)aminometan (TRIS), Biphenyl được poly bro hóa (PBB) và Pentabromodiphenyl ete, Octabromodiphenyl ete và Decabromodiphenyl ete (penta-, octa-, và deca-BDE) được cho là bền vững trong môi trường và cũng bị nghi ngò là ảnh hưởng lên hệ miễn dịch của người. TRIS bị cấm ở Mỹ và nhiều bang của Mỹ cấm penta-, octa-, và deca-BDE. EU và Nhật Bản cũng cấm một số chất chống cháy.
Formaldehyd là hợp chất dễ bay hơi do một số chất xử lý hoàn tất vật liệu dệt giải phóng ra, như là những chất mang lại đặc tính chống nhàu. Các chất xử lý hoàn tất có chứa formaldehyt chắc chắn được dùng trên các loại vải dễ bị nhàu, như là bông hoặc len. Formaldehyt gây kích thích mắt, mũi, phổi và các niêm mạc, có thể gây ra nhức đầu, khó thở, ban đỏ da và phản ứng dị ứng; Chất này bị nghi ngờ gây ung thư. Formaldehyt bị kiểm soát ở Nhật Bản, Na Uy và Phần Lan, và Ủy ban An toàn hàng tiêu dùng của Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu về formaldehyt trên vật liệu dệt.
Các kim loại nặng gồm antimoan, asen, barium và selenium, các kim loại này được cho là gây ra các ảnh hưởng tiêu cực lên sức khỏe con người. Các kim loại này gắn liền với xơ tổng hợp và có thể tìm thấy trong phụ liệu trang trí quần áo và vật phụ trợ.
Chì là kim loại có trong tự nhiên có thể tìm thấy trong plastic, sơn, mực, pigment và các thành phần kim loại. Chì và các hợp chất của chì được cho là gây ung thư. Nó có thể ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương (đặc biệt là trẻ em), gây tổn thương thận và hệ miễn dịch. Chì được kiểm soát ở Mỹ cho từng nhóm sản phẩm nào đó, cả ở vật liệu nền và lớp tráng bề mặt.
Nikel là kim loại có trong tự nhiên, thường được kết hợp với các kim loại khác để tạo thành các hợp kim có độ cứng gia tăng và chịu được ăn mòn. Có thể tìm thấy Nikel trong vật liệu trang trí và phụ trợ của quần áo như là khuy bấm, cúc áo và khóa kéo. Nikel có thể gây dị ứng và bị nghi là gây ung thư. Châu Âu hạn chế sử dụng Nikel.
Các hợp chất hữu cơ thiếc kết hợp thiếc và các chất hữu cơ như là các nhóm butyl và phenyl. Các hợp chất thiếc hữu cơ có thể tìm thấy trong các chất kháng khuẩn, plastic, mực in, sơn và vật liệu chuyển nhiệt. Các hợp chất này bị nghi là làm rối loạn nội tiết và bị hạn chế ở Nhật Bản, Hàn Quốc và EU.
Các dung môi hữu cơ được dùng cho xử lý hoàn tất vật liệu dệt, làm sạch và tác nhân in, và trong các quá trình gia công khác trong đó cần đến chúng để hòa tan và làm loãng chất béo, dầu và các chất kết dính. Chũng cũng được sử dụng trong chăm sóc sau quần áo, như là để giặt khô. Các dung môi hữu cơ có khả năng bay hơi cao, và nhiều chất trong số này được cho là gây hại cho sức khỏe con người.
Pentaclophenol (PCP) là hợp chất poly clo hóa được dùng làm chất bảo quản và chống nấm mốc trên vật liệu dệt và sản phẩm da. PCP được cho là gây ra ung thư và quá trình đốt chất này giải phóng các dioxin. Sử dụng PCP bị hạn chế ở EU và Thụy Sĩ.
Các vết của thuốc bảo vệ thực vật đôi khi được tìm thấy trong xơ tự nhiên (điển hình là xơ bông), đặc biệt là Dieldrin và DTTB là các chất có thể được phun lên xơ tự nhiên trong quá trình trồng và bảo quản. Các thuốc bảo vệ thực vật có thể được hấp thụ qua da , và một số bị nghi là gây ung thư. Các thuốc bảo vệ thực vật trong vật liệu dệt được kiểm soát ở Nhật Bản và Thụy sĩ.
Các phthalat được bổ sung vào plastic để làm tăng độ mềm dẻo và có thể tìm thấy trên quần áo có các thành phần plastic và hình in lưới. Một số phthalat được xem là ảnh hưởng đến hệ thần kinh, gây rối loạn hệ hooc môn và bị nghi là gây ung thư. Các phthalat nào đó bị kiểm soát ở EU và Mỹ.
Polyvinyl Clorua (PVC) là plastic nhiệt dẻo có thể là mềm, cứng, trong suốt hoặc có màu. Có thể tìm thấy PVC trên quần áo, vật liệu trang trí và vật liệu tráng. Có thể thường xuyên tìm thất PVC trong in lưới và mực. Nhiều hợp chất tham gia và quá trình sản xuất PVC và trong sản phẩm PVC là độc. Các mặt hàng từ PVC bền vững trong môi trường, việc sản xuất và thải bỏ các mặt hàng này thường dẫn đến các phế thải có độc tính cao như là dioxin. PVC được kiểm soát cho các nhóm sản phẩm nào đó trong một số bang ở Mỹ.
4. Bảo vệ người tiêu dùng
Các nhà bán lẻ bảo vệ người tiêu dùng (và danh tiếng của họ) trước các chất gây hại như thế nào? Mô tả đặc tính kỹ thuật của vật liệu và chương trình đánh giá toàn diện là công cụ quan trọng nhất mà chuỗi cung cấp có để bảo đảm tính chính trực của vật liệu. Mô tả đặc tính kỹ thuật được sử dụng điển hình để kiểm soát chất lượng nhưng chúng cũng là công cụ hoàn hảo để kiểm soát chất nào được sử dụng và không được sử dụng trên vải và vật liệu phụ trợ.
Để tự bảo vệ mình, các nhà bán lẻ phải nghiên cứu chất nào được xem là rủi ro. Điều quan trọng là các nhà bán lẻ cần nghiên cứu vượt qua cả các yêu cầu tối thiểu của địa phương.
Cách thức tiếp cận toàn diện tới việc phát triển vật liệu là có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển sản phẩm tuân thủ yêu cầu và đánh giá mỗi thành phần là quan trọng. Cẩn thận với từng chi tiết thông qua toàn bộ quá trình phát triển sản phẩm, ta sẽ có sản phẩm tuân thủ với yêu cầu. Các nhà bán lẻ khác nhau sử dụng các chiến lược khác nhau để giám sát chất lượng sản phẩm thông qua quá trình gia công bằng thử nghiệm, đánh giá quá trình hoặc lấy được thư đảm bảo từ nhà cung cấp vật liệu. Đôi khi các nhà bán lẻ chỉ định rõ các nhà cung cấp vật liệu xác định để có được chất lượng đồng đều qua toàn chuỗi cung cấp và thử nghiệm có thể được bố trí hợp lý. Có nhà bán lẻ khuyến khích nhà cung cấp có chứng chỉ công nhận của bên thứ ba như là Oeko-Tex.
5. Danh sách chất bị hạn chế (RSL)
Nhiều công ty sử dụng danh sách chất bị hạn chế làm phương thức để kiểm soát các chất có rủi ro cao, danh sách này hạn chế sự phơi nhiễm của người tiêu dùng với các chất nhất định và cũng hạn chế tác động của các chất lên môi trường. Mục đích rõ ràng của RSL là đưa ra một cách rất rõ ràng cho các nhà cung cấp các hóa chất bị hạn chế hoặc bị cấm trên sản phẩm thành phẩm.
Các nhà bán lẻ xử lý RSL theo 3 cách:
a. Danh sách các chất bị hạn chế của Hiệp hội may mặc và giày dép Mỹ (AAFA). AAFA duy trì RSL trên website và được cập nhật sáu tháng một lần. Mục tiêu là giữ cho danh sách càng phổ biến càng tốt và không quá cồng kềnh hoặc khó sử dụng. Danh sách chất bị hạn chế của AAFA có mục tiêu toàn cầu – nó liệt kê các hóa chất bị cấm cùng với quốc gia ra lệnh cấm và các giới hạn ngưỡng tối đa cho các chất này. Danh sách này kiểm soát các hóa chất, nhưng để lại việc thử nghiệm và sự tuân thủ cho các nhà sản xuất.
b. Nhóm làm việc quản lý danh sách các chất bị hạn chế Quốc tế trên quần áo và giày dép (AFIRM Group) – gồm 13 công ty có các nhãn hàng lớn, mỗi công ty có RSL riêng. AFIRM đã phát triển một công cụ mô tả công đoạn nào có thể tìm thấy chất bị hạn chế, một sơ đồ dòng chảy để thực hiện, kế hoạch quản lý hóa chất và thử nghiệm các chất bị hạn chế.
c. Các RSL của riêng công ty – một số công ty như Mark&Spencer đã có riêng danh sách chất bị hạn chế tách ra khỏi các nhóm khác. Một số danh sách các chất bị hạn chế khác gộp danh sách “thực hành tốt”, phân loại các hóa chất có thể bị cấm trong tương lai.
6. Xem xét thực tế
Thử nghiệm các chất có thể gây hại và công nhận thực tế sản xuất an toàn giúp đỡ người tiêu dùng chừng mực và cả danh tiếng của nhãn hàng trong nào đó. Nhưng có một số điều xem xét thực tế. Ta không thể thử được mọi thứ - điều này là không khôn ngoan và làm cho sản phẩm quá đắt tiền không thể sản xuất được. Có trên 100 chất trong danh sách chất bị hạn chế. Không cần phải thử hầu hết các chất trong mọi trường hợp. Thử nghiệm phụ thuộc vào các hóa chất cụ thể được sử dụng trong quá trình gia công và vào sử dụng cuối cùng của sản phẩm. Ví dụ chì không có mặt trên vải nhưng thường xuyên tìm thấy chì trong plastic, cúc kim loại và khóa kéo. Một số RSL có bảng ma trận thử nghiệm. Đây là phương thức tiếp cận thực tế để giảm chi phí thử nghiệm và đảm bảo tuân thủ với danh sách chất bị hạn chế. Bảng ma trận thử nghiệm sẽ cung cấp các điều kiện có thể có mặt hóa chất, và liệu có cần thử hóa chất hay không. Nếu một hóa chất không bao giờ được dùng trong gia công vải tổng hợp, thì việc thử nghiệm chất đó trong chăn acrylic là điều không khôn ngoan.
Thử nghiệm và công nhận có thể làm tăng thêm chi phí sản xuất và bán hàng, nhưng những chi phí ấy nhỏ hơn giá trị của việc bảo vệ danh tiếng của nhãn hàng. Và bảo vệ sức khỏe con người và môi trường của hành tinh còn giá trị hơn nhiều.
(Nguồn Viện Dệt May)
Newer news items:
- Hohenstein Institute’s UV Protection Tests
- Thị trường dệt may toàn cầu 2009: Một số xu hướng chính
- Báo Mỹ đánh giá cao sự phát triển dệt may Việt Nam
- Xuất khẩu dệt may thuận lợi thị trường mới
- Dimethylfumarat bị cấm tai Âu Châu, Oeko Tex Standard 100 có bước đi tiên phong
Older news items:
- Avery Dennison giới thiệu thiết bị in đa năng
- Tránh viễn cảnh “cả dân tộc chỉ biết đạp máy khâu”
- Một số các tiêu chuẩn quốc tế áp dụng cho thị trường Châu Âu
- Kỳ vọng xuất khẩu dệt may vào Nhật Bản
- Doanh nghiệp Dệt May tiêu biểu – Những doanh nghiệp vượt qua cơn suy thoái kinh tế toàn cầu




