Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đang phát triển mạnh, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân về tạo việc làm cho người lao động, thu ngoại tệ và là nguồn thu thuế lớn của nhà nước. Nếu phát triển bông thực hiện đúng tiến độ theo Quyết định số 36/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì đến năm 2015 sản xuất bông trong nước là 40 ngàn tấn, đáp ứng được 10% nhu cầu và đến 2020 là 60 ngàn tấn đáp ứng được 12% nhu cầu bông xơ tiêu thụ trong nước.
1. Tình hình sản xuất bông thế giới
1.1 Hiện trạng sản xuất
Sau khi đạt đỉnh cao trong niên vụ 2004/2005 với diện tích trồng bông đạt 35,8 triệu ha, với sản lượng đạt 26,2 triệu tấn, năng suất 732 kg bông xơ/ha. Đến nay ngành sản xuất bông trên thế giới có nhiều biến động: diện tích trồng bông sụt giảm mạnh nhất ở Hoa Kỳ, Úc, Thổ Nhĩ Kỳ, nguy cơ sụt giảm diện tích trồng bông cũng bắt đầu xuất hiện tại các nước Trung Quốc, Ấn Độ.
Nguyên nhân chủ yếu của sự giảm sút này là sự mất lợi thế của cây bông so với các cây trồng khác (ngô, đậu tương…). Sự mất lợi thế đó được thể hiện rõ nhất trong tương quan giữa giá bông so với giá các loại nông sản khác. Nếu xét trong khoảng 30 năm trở lại đây, giá bông hầu như không tăng mà còn giảm mạnh.
Hiện nay, giá 1 tấn bông xơ chỉ số No.1 có giá từ 1.100 – 1.200 USD so với giá bông nhiều năm trước ở mức 1500 đến 2000 USD/tấn.
1.2 Phương thức sản xuất
Trên thế giới hiện nay tồn tại 2 phương thức sản xuất bông:
- Sản xuất bông không có sự hỗ trợ của nhà nước: Đây là phương thức sản xuất ở những, những vùng mà cây boong vẫn có ưu thế vì không có cây trồng nào tốt hơn hoặc những nước và vùng trồng bông là vùng đất xấu (Châu Phi…), đời sống nhân dân còn nghèo, thu nhập thấp, cây bông có năng suất cao và trở thành cây có tác dụng xóa đói giảm nghèo.
- Sản xuất bông có sự hỗ trợ của nhà nước: Điển hình cho phương thức sản xuất này là 3 nước lớn (Hoa Kỳ, Ấn Độ và Trung Quốc) chiếm hơn 75% sản lượng bông thế giới. Việc hỗ trợ của mỗi nước tuy khác nhau, nhưng mục đích là làm cho việc trồng bông có thu nhập cao hơn so với các cây trồng cạnh tranh khác (kể cả trong nước và quốc tế).
- Phương thức sản xuất được nhà nước hỗ trợ sản xuất bông tạo điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học trong nghiên cứu giống, cơ giới hóa việc trồng, chăm sóc và tưới tiêu nên sản xuất bông có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt.
1.3 Xu hướng diễn biến giá bông thế giới
Giá bông thế giới có xu hướng tăng do diện tích trồng bông bị thu hẹp và các nước sản xuất bông lớn trên thế giới như Hoa Kỳ, Ấn Độ sẽ phải từng bước cắt giảm trợ cấp đối với ngành theo cam kết hội nhập.
2. Hiện trạng ngành sản xuất bông Việt Nam
2.1 Các điều kiện tự nhiên tác động đến sản xuất
- Trong thực hiện sản xuất bông ở Việt Nam, thời tiết, khí hậu là yếu tố tác động nhiều đến việc sản xuất bông. Vì bông được trồng chủ yếu ở vụ 2 trong mùa mưa nhờ nước trời nên đôi khi khó phù hợp và bấp bênh. Trong 7 năm gần đây chỉ có 2 năm là thời tiết bình thường, bông cho năng suất cao còn lại 5 năm thời tiết thất thường, hạn hán hoặc mưa nhiều cuối vụ nên các năm đó bông cho năng suất thấp.
- Đất chưa phải là yếu tố tự nhiên hạn chế mở rộng diện tích cho dù đất mà nông dân dành cho trồng bông không phải hoàn toàn là đất tốt. Hiện nay, ngăn trở chủ yếu sự tăng trưởng của ngành bông mang tính chất kinh tế.
2.2 Chế độ sản xuất
Bông ở Việt Nam được trồng ở hai vụ:
Bông vụ mưa: Gieo tháng 7 thu hoạch vào cuối tháng 11. Bông trồng theo vụ mưa chiếm đa phần nhưng có nhiều kiểu trồng khác nhau. Bông có thể trồng riêng trong 1 vụ (ở Bình Thuận) hoặc trồng ở vụ 2 sau vụ cây trồng ngắn ngày như đậu xanh, đậu tương, ngô… và có thể trồng thuần hoặc xen canh với cây trồng khác.
Bông có tưới: gieo vào tháng 11 và 12, thu hoạch tháng 3 và 4. Có hai loại:
Bông trồng trên các thửa ruộng nhỏ với hệ thống tưới bằng giếng như ở Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Bông trồng trên diện tích được tưới bằng các công trình thủy lợi như ở Bình Thuận.
2.3 Diện tích, năng suát, sản lượng bông hạt
- Về diện tích: Nhờ có các tiến bộ kỹ thuật và dổi mới về phương thức quản lý sản xuất nên sản xuất bông tăng mạnh, cao nhất là niên vụ 2002/03 đạt 32267 ha; vụ 2003/04 diện tích bắt đầu giảm sút: vụ 2006/07 diện tích giảm còn 17300 ha bằng hơn 50% vụ 2002/03 và vụ 2007/08 chỉ còn 7324 ha.
- Về năng suất: Đối với bông nước troiừ: do phụ thuộc quá lớn vòa thời tiết nên năng suất bông nhờ nước trời không ổn định. Trong 7 năm qua, năng suất bông dao động khoảng 10 – 11 tạ/ha. Trong khi đó năng suất ngô (cây trồng cạnh tranh chính với bông) tăng đều đặn mỗi năm 140kg/ha. Theo báo cáo của SOFRECO để cạnh tranh được, với hai giá ngô và bông trong nông dân twong ứng là 2.700 đồng/kg và 6000 đồng/kg, năng suất ngô là 4 tấn /ha thì năng suất bông bình quân phải đạt 2.147 kg/ha, một con số khó đạt cho bông vụ mưa.
Đối với bông có tưới: Năng suất bông có tưới trong 7 năm qua tăng liên tục từ 9,9 tạ trong niên vụ 2001/02 lên 15,01 tạ trong niên vụ 2003/04 và hiện nay đạt bình quân 20 tạ/ha, nhiều hộ gia đình đạt 30 – 35 tạ/ha.
2.4 Cán bông và tỷ lệ xơ bông
Hiện ở các công ty bông trong ngành có 8 nhà máy đang hoạt dộng. 8 nhà máy và cơ sở hạ tầng nhà xưởng là thích hợp và công suất cán có thể đạt được hơn 100 ngàn tấn bông hạt (khoảng 37 – 40 ngàn tấn xơ) cho 5 tháng hoạt động.
Với các giống bông đang trồng và diều kiện sản xuất hiện nay, tỷ lệ xơ bình quân ở các nhà máy vào khoảng 36.5% thấp hơn so với các nước trồn bông lớn trên thế giới như Trung Quốc, Hoa Kỳ và Tây Phi (khoảng 40%).
2.5 Giá thành bông xơ trong nước
Giá thành 1kg xơ trong 3 vụ bông vừa qua của Công ty CP Bông Việt Nam duy trì ở mức 20./000 đồng/kg xơ, tương đương 1,25 USD/kg, giá này gần với giá CIF thế giới. So với các vùng khác như Cộng đồng Châu Âu, nhất là Châu Phi thì đó là giá cạnh tranh. Nhưng giá bông hạt mà các công ty mua cho người trồng bông không đủ hấp dẫn so với các cây trồng khác, mặc dù giá thành bông hạt của nông dân chỉ bằng 70% giá mua này.
2.6 Hình thức tổ chức sản xuất
Trước năm 1995, sản xuất bông trong nước tập trung ở các nông trường quốc doanh. Lúc bấy giờ sản xuất bông chưa hội đủ các yếu tố để đảm bảo cho sự thành công như kỹ thuật, hệ thống quản lý, đội ngũ công nhân… nên sản xuất bông chưa hiệu quả. Vì vậy, chủ trương của nhà nước là giao các nông trường về cho địa phương quản lý và từ năm 1996 đến nay sản xuất bông chuyển sang hình thức trồng trong nông dân. Hình thức này có hiệu quả và phù hợp với điều kiện ở Việt Nam. Nhưng mặt trái của hình thức này là nguyên liệu không ổn định do phụ thuộc vào giá cả thị trường va nông dân tự do lựa chọn, quyết định trồng cây nào có lợi trên đất của mình.
Quy mô sản xuất bông ở Việt Nam còn phân tán, nhỏ lẻ trong hộ nông dân, rất ít nhóm kinh tế, mức độ cơ giới hóa còn rất thấp và đặt biệt là chưa có vùng tập trung lớn nên rất khó áp dụng các tiến bộ kỹ thuật đồng bộ để nâng cao năng suất và chất lượng bông hạt. Số hộ sản xuất bông tự cấp tự túc chiếm hơn 80%. Dân tộc thiểu số chiếm 15 – 20% tổng số hộ sản xuất bông.
2.7 Những thuận lợi và khó khăn
- Thuận lợi:
+ Thị trường bông xơ trong nước lớn và ổn định. Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đang phát triển mạnh, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân về tạo việc làm cho người lao động, thu ngoại tệ và là nguồn thu thuế lớn của nhà nước. Nếu phát triển bông thực hiện đúng tiến độ theo Quyết định số 36/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì đến năm 2015 sản xuất bông trong nước là 40 ngàn tấn, đáp ứng được 10% nhu cầu và đến 2020 là 60 ngàn tấn đáp ứng được 12% nhu cầu bông xơ tiêu thụ trong nước.
+ Trồng bông có tưới sử dụng ít nước, phù hợp cho vùng khô hạn, điều kiện thủy lợi khó khăn và điều này càng có ý nghĩa hơn khi nguồn tài nguyên nước ngày càng khan hiếm. So với hầu hết các cây trồng ngắn ngày, cây bông có khả năng phục hồi tốt khi gặp thời tiết bất thường.
+ Cây bông có thể trồng xem với các cây trồng khác
+ Sản xuất bông trong nước có lợi thế so sánh về mặt chi phí vận chuyển. Để có được 1kg bông xơ nhập về tại cảng Việt Nam, các doanh nghiệp phải mất 7 Uscents/kg (tương đương 1.250 đồng/kg) chi phí vận chuyển, giao nhận hàng… ưu thế đáng kể này nếu được phản ánh đầy đủ vào giá mua bông hạt, sẽ cho phép mua với giá tăng thêm 1000 đồng/kg bông hạt, với tỷ lệ cán 36,5%.
+ Chất lượng bông xơ Việt Nam đã cải thiện rõ rệt, giá bông xơ Việt Nam tương đương với chỉ số Cotlook A.
- Khó khăn
+ Giá mua bông hạt thấp, năng suất thấp. Từ năm 2001 đến năm 2007 giá bông chỉ tăng 27%, còn ngô tăng 175%, lúa tăng 207%, đầu nành tăng 87,5%. Do vậy, thu nhập từ bông không thể cạnh tranh được với một số cây trồng khác. Mặt khác, tỷ trọng sản xuất bông trong nước còn thấp, giá bông dựa theo giá bông nhập khẩu. Trong khi đó, các nước sản xuất bông lớn như Hoa Kỳ, Úc, Trung Quốc… có năng suất cao, lại có sự trợ giá của Chính phủ, nên doanh nghiệp không thể tăng giá mua bông hạt cho nông dân để khuyến khích và mở rộng sản xuất.
+ Khí hậu, thời tiết thay đổi thất thường
+ Kỹ thuật và lao động còn hạn chế
+ Cơ chế chính sách chưa khuyến khích sản xuất bông phát triển.
(Nguồn: Thông tin thương mại)




